Máy tính thời gian vang âm

Ước tính suy giảm trường khuếch tán, không phải phép đo phòng

Sabine và Eyring dùng hình học phòng và độ hút âm bề mặt. Suy giảm thực tế thay đổi theo tần số, cách lắp, nội thất, người, ô mở và phân bố vật liệu.

Bước 1 / 4 Kích thước mặt bằng

Nhập kích thước lọt lòng mặt bằng

Dùng kích thước lọt lòng sau hoàn thiện và một đơn vị nhất quán. Máy tính đổi về SI trước khi áp dụng công thức.

Nguồn về công thức, hút âm và phép đo

Dùng dữ liệu phòng thí nghiệm phù hợp tần số và cấu tạo lắp. Với phòng quan trọng, hãy đo suy giảm thực thay vì chỉ dựa vào ước tính.

Ngày rà soát nguồn:

Ước tính thời gian để âm vang suy giảm 60 decibel sau khi nguồn âm dừng. Nhập kích thước phòng, chọn dải tần và mô tả độ hút âm của sàn, trần và tường để so sánh dự đoán RT60 theo Sabine và Eyring. Bạn có thể nhập thêm thời gian mục tiêu để xem mức thay đổi diện tích hút âm tương đương. Kết quả hữu ích khi so sánh phương án sơ bộ cho không gian kín, nhưng không phải số đo bằng micro. Độ suy giảm thực tế còn phụ thuộc tần số, nội thất, người trong phòng, các ô mở và cách bố trí vật liệu.

Cách ước tính thời gian vang âm

  1. 1

    Đo kích thước lọt lòng phòng

    Nhập chiều dài, chiều rộng và chiều cao thông thủy theo bề mặt hoàn thiện, rồi chọn đúng đơn vị đo.

  2. 2

    Chọn một dải tần và hệ số

    Nhập hệ số hút âm đại diện của sàn, trần và toàn bộ tường tại dải tần đã chọn.

  3. 3

    So sánh hai mô hình RT60

    Xem diện tích hút âm tương đương, hệ số trung bình và hai thời gian suy giảm. Thêm mục tiêu nếu cần ước tính mức thay đổi hút âm.

RT60, diện tích hút âm tương đương và hai mô hình

RT60 là thời gian để mức áp suất âm trong phòng giảm 60 dB sau khi nguồn âm dừng. Với mỗi bề mặt bao che i, nhân diện tích Sᵢ với hệ số hút âm αᵢ. Tổng là diện tích hút âm tương đương:

A = Σ(Sᵢ × αᵢ)

Gọi thể tích là V, tổng diện tích bao che S = ΣSᵢ và hệ số trung bình ᾱ = A / S, ước tính Sabine theo hệ mét là:

T₆₀,Sabine = 0.161V / A

Mô hình Eyring thay thành phần hút âm tuyến tính bằng thành phần logarit:

T₆₀,Eyring = 0.161V / [−S ln(1 − ᾱ)]

Với thời gian mục tiêu tùy chọn T, công thức Sabine đảo là Arequired = 0.161V / T, còn Eyring đảo là Arequired = S × [1 − exp(−0.161V / (ST))]. Trừ A hiện tại sẽ cho phần hút âm dư hoặc thiếu theo mô hình, chứ không chỉ định loại hay vị trí tấm tiêu âm.

Dùng m³ và m² với 0.161; nếu dùng ft³ và ft² thì hệ số gần đúng thông dụng là 0.049. Máy tính đổi đơn vị trước khi áp dụng một hệ công thức nhất quán. Mô hình âm học phòng của MathWorks trình bày quan hệ Sabine và dữ liệu phụ thuộc tần số. Bài báo gốc của Eyring trên Journal of the Acoustical Society of America giải thích lý do mô hình logarit được đề xuất cho phòng có độ hút âm cao hơn.

Ví dụ tính toán

Xét phòng 5 m × 4 m × 3 m. Thể tích là 60 m³, tổng sáu bề mặt bao che là 94 m². Tại một dải tần được chọn, giả sử:

Nhóm bề mặt Diện tích Hệ số Hút âm tương đương
Sàn 20 m² 0,10 2,00 m² sabin
Trần 20 m² 0,60 12,00 m² sabin
Tường 54 m² 0,05 2,70 m² sabin
Tổng 94 m² ᾱ = 0,178 16,70 m² sabin

Sabine cho 0,161 × 60 / 16,70 ≈ 0,58 s. Eyring cho 0,161 × 60 / [−94 ln(1 − 0,178)] ≈ 0,53 s. Chênh lệch này là bình thường: hai mô hình gần nhau khi độ hút âm trung bình thấp và tách xa hơn khi độ hút âm tăng.

Diễn giải kết quả thận trọng

Hệ số hút âm không phải hằng số vật liệu trong mọi điều kiện. Giá trị thay đổi theo tần số, cách lắp, khe không khí, chiều dày và phương pháp thử. Vì vậy không được trộn số liệu của các dải khác nhau rồi gọi kết quả là RT60 toàn dải. Máy tính tách riêng sàn và trần nhưng dùng một hệ số chung cho cả bốn tường. Cả hai phương trình đều giả định trường âm tương đối khuếch tán và rút gọn căn phòng phức tạp thành các bề mặt trung bình. Chúng không mô phỏng vị trí nguồn hay người nghe, tán xạ, hút âm trong không khí, tiếng dội liên tiếp, mode riêng, cửa, không gian liên thông hoặc vật liệu tập trung không đều.

Hãy dùng kết quả để so sánh phương án sơ bộ, không dùng để chứng nhận phòng hoàn thiện hay cam kết độ rõ của lời nói. Cần đo độ suy giảm thực khi quyết định có hệ quả lớn. ISO 3382-2 quy định quy trình, vị trí, đánh giá và báo cáo phép đo trong phòng thông thường. Với địa điểm công cộng, trường học, nơi làm việc, kết cấu chống cháy hoặc công trình tốn kém, hãy tuân thủ quy chuẩn Việt Nam áp dụng và tham khảo chuyên gia âm học đủ năng lực.

Câu hỏi thường gặp

RT60 là thời gian tính bằng giây để mức áp suất âm trong phòng giảm 60 dB sau khi nguồn dừng. Khi nhiễu nền không cho phép quan sát đủ 60 dB, phép đo theo tiêu chuẩn có thể ngoại suy từ khoảng suy giảm ngắn hơn như T20 hoặc T30.

Sabine là ước tính sơ bộ quen thuộc và hợp lý nhất khi độ hút âm trung bình thấp. Eyring hiệu chỉnh theo logarit và thường dự đoán thời gian ngắn hơn khi độ hút âm tăng. Không kết quả nào tự trở thành phép đo của phòng thật, vì vậy nên so sánh cả hai và ghi rõ mô hình đã dùng.

Hãy dùng giá trị theo dải tần từ báo cáo thử nghiệm được công nhận của nhà sản xuất hoặc nguồn có thể truy xuất cho cùng cấu tạo, chiều dày và cách lắp. Bảng chung chỉ phù hợp để ước tính thô vì khe không khí, lớp nền, thi công và tần số có thể làm hệ số thay đổi đáng kể.

Mỗi bề mặt hấp thụ tỷ lệ năng lượng khác nhau ở từng tần số. Ví dụ, thảm có thể hút âm cao tần nhiều hơn âm trầm. Khi có dữ liệu phù hợp, hãy tính riêng từng dải trong sáu dải quãng tám được hỗ trợ.

Không. Công thức RT60 ước tính suy giảm năng lượng theo thống kê, không xác định tần số sóng đứng hay phản xạ lặp giữa hai bề mặt song song. Dùng Máy tính mode phòng cho cộng hưởng lý tưởng của phòng chữ nhật và xác nhận cả hai hiện tượng bằng phép đo.

Mục tiêu tùy chọn so sánh diện tích hút âm giả định nhưng không phê duyệt số lượng hay vị trí. Máy tính áp một hệ số cho bốn tường, số liệu công bố có thể không khớp cấu tạo lắp thực tế, và vật liệu tập trung có thể vi phạm giả định trường khuếch tán. Với dự án quan trọng, hãy kiểm tra yêu cầu về cháy, xây dựng, tiếp cận và xin tư vấn chuyên môn.

Máy tính không phát hay ghi âm. Nếu đo riêng, hãy dùng thiết bị đã hiệu chuẩn ở mức thấp nhất có thể, bảo vệ thính giác, báo trước cho người xung quanh và tuân thủ phương pháp cùng quy định an toàn địa phương. Không dùng nguồn xung có thể gây thương tích hoặc làm người khác hoảng sợ.

Giá trị được gửi qua Livewire đến máy chủ trang khi trang cập nhật. Chế độ từng bước cũng đặt giá trị trong URL và lịch sử trình duyệt. Không nhập thông tin công trình mật, tên khách hàng hoặc địa chỉ chính xác.

Công cụ liên quan